Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý tự miễn với các biểu hiện rất đa dạng, dấu hiệu tại khớp, ngoài khớp và toàn thân với các mức độ khác nhau. Bệnh diễn biến phức tạp và để lại biến chứng nặng nề. Cần chẩn đoán chính xác bệnh và có biện pháp điều trị phù hợp giảm đau đớn cho người bệnh cũng như hạn chế các biến chứng có thể xảy ra.

chan doan

Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR ) 1987

Tiêu chuẩn này hiện nay vẫn được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới và ở Việt Nam đối với thể bệnh biểu hiện nhiều khớp và thời gian diễn biến trên 6 tuần.

  • Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ
  • Tình trạng viêm tối thiểu 3 nhóm khớp: Sưng phần mềm hay tràn dịch tối thiểu 3 trong số 14 nhóm khớp sau: khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân.
  • Viêm các khớp ở bàn tay: Sưng tối thiểu một nhóm trong số các khớp cổ tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón tay
  • Các khớp viêm có tính chất đối xứng
  • Xuất hiện các hạt dưới da
  • Có yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính
  • Dấu hiệu X quang điển hình của bệnh: Chụp khớp tại bàn tay, cổ tay hoặc khớp tổn thương: hình bào mòn, hình hốc, hình khuyết đầu xương, hẹp khe khớp, mất chất khoáng đầu xương.

Chẩn đoán xác định : khi có ≥ 4 tiêu chuẩn. Triệu chứng viêm khớp (tiêu chuẩn 1- 4) cần có thời gian diễn biến ≥ 6 tuần và được xác định bởi thầy thuốc.

Tiêu chuẩn này có độ nhạy 91-94% và độ đặc hiệu 89% của những người bệnh đã tiến triển. Ở giai đoạn bệnh mới khởi phát, độ nhạy chỉ dao động từ 40 – 90% và độ đặc hiệu từ 50 – 90%

Lưu ý: Dấu hiệu hạt dưới da thường ít gặp ở nước ta. Ngoài ra, cần khảo sát các triệu chứng khác ngoài khớp như teo cơ, viêm mống mắt, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, viêm mạch máu… ít gặp, dễ bị bỏ sót

Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 ( ACR/EULAR 2010 – American College of Rheumatology/ European League Against Rhumatism)

Áp dụng tiêu chuẩn này cho người bệnh ở giai đoạn sớm, các khớp viêm dưới 6 tuần và có thể ít khớp. Cần theo dõi đánh giá lại chẩn đoán vì có nhiều trường hợp cũng có thể là biểu hiện sớm của các bệnh lý khớp khác không phải viêm khớp dạng thấp.

Đối tượng người bệnh: Có ít nhất 1 khớp được xác định viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng và viêm màng hoạt dịch khớp không do các bệnh lý khác

Biểu hiện Điểm
A. Biểu hiện tại khớp
1 khớp lớn 0
2−10 khớp lớn 1
1−3 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn) 2
4−10 khớp nhỏ (có hoặc không có biểu hiện tại các khớp lớn) 3
>10 khớp (ít nhất phải có 1 khớp nhỏ) 5
B. Huyết thanh (ít nhất phải làm một xét nghiệm)
RF âm tính và Anti CCP âm tính 0
RF dương tính thấp* hoặc   Anti CCP dương tính thấp* 2
RF dương tính cao* hoặc   Anti CCP dương tính cao* 3
C. Các yếu tố phản ứng pha cấp (cần ít nhất một xét nghiệm)
CRP   bình thường   và Tốc độ lắng máu   bình thường 0
CRP   tăng   hoặc Tốc độ lắng máu   tăng 1
D. Thời gian biểu hiện các triệu chứng
0
≥ 6 tuần 1
Chẩn đoán xác định : khi   số   điểm ≥ 6/10

* Dương tính thấp khi ≤ 3 lần giới hạn cao của bình thường

* Dương tính cao khi > 3 lần giới hạn cao của bình thường

Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm lâm sàng cần chỉ định như sau:

Các xét nghiệm cơ bản: tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, protein phản ứng C (CRP)…, xét nghiệm chức năng gan, thận, Xquang tim phổi, điện tâm đồ…

Các xét nghiệm đặc hiệu (có giá trị chẩn đoán, tiên lượng):

  • Yếu tố dạng thấp (RF) dương tính trong 60 – 70 % bệnh nhân.
  • Anti CCP dương tính trong 75 – 80 % bệnh nhân
  • Xquang khớp (thường chụp hai bàn tay thẳng hoặc các khớp bị tổn thương)

Đọc thêm: Các phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp

Nhóm liên quan:

Bình luận